Bản Chất & Hiện Tượng, Khả Năng & Hiện Thực
Khái niệm, quan hệ biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận
ae. Bản chất và Hiện tượng
- BẢN CHẤT là cái tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật.
- HIỆN TƯỢNG là cái biểu hiện ra bên ngoài của cái tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ ấy (tức của bản chất).
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. Sự khác biệt, đối lập giữa bản chất và hiện tượng.
bÝ nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức, để hiểu đúng đắn, đầy đủ về sự vật, không được dừng lại ở hiện tượng, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó. Trong thực tiễn, cần dựa vào bản chất, chứ không dựa vào hiện tượng.
Vì bản chất của sự vật tồn tại khách quan ở ngay trong bản thân sự vật, nên muốn tìm bản chất của sự vật, phải xuất phát từ chính bản thân sự vật đó, chứ không thể tìm ở ngoài nó.
Vì bản chất bộc lộ ra bằng hiện tượng, nên chỉ có thể tìm bản chất của sự vật thông qua việc nghiên cứu các hiện tượng của nó. Song, hiện tượng của bản chất thì muôn hình ngàn vẻ, nên phải biết phân tích và tổng hợp các hiện tượng, nhất là nắm được hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
cf. Khả năng và Hiện thực
– HIỆN THỰC là những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự.
– KHẢ NĂNG là những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiện tương ứng.
LƯU Ý: Hiện thực bao gồm cả hiện thực vật chất (hiện thực khách quan) và hiện thực tinh thần (hiện thực chủ quan), nghĩa là cả vật chất lẫn tinh thần đều tồn tại.
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
Với cùng một sự vật thì trong những điều kiện nhất định, có thể tồn tại đồng thời một số khả năng khác nhau.
Muốn một khả năng biến thành hiện thực, phải có điều kiện nhất định.
dÝ nghĩa phương pháp luận
Trong thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, chứ không được dựa vào khả năng (nếu không muốn rơi vào ảo tưởng) để định ra chủ trương, phương hướng hành động của mình.
Tuy không dựa vào khả năng, nhưng cần tính đến các khả năng (khả năng gần, xa, tất nhiên, ngẫu nhiên…) để có các phương án dự phòng thích hợp.
Trong lĩnh vực xã hội, cần đặc biệt chú ý phát huy nguồn lực con người (nhân tố chủ quan). Không thấy nhân tố chủ quan (tức hoạt động của con người), sẽ phạm sai lầm hữu khuynh. Nếu thổi phồng nhân tố chủ quan, bất chấp điều kiện khách quan, sẽ mắc sai lầm “tả khuynh”.
